Pages

Subscribe:

Tuesday, 1 December 2015

Hạt điều Việt Nam trở thành "ông trùm" thế giới

Không chỉ đứng số một thế giới về sản lượng và giá trị xuất khẩu, ngành điều Việt Nam có thể nói là ngành hiếm hoi xuất khẩu công nghệ ra nước ngoài.

Nếu trước đây một cái máy bóc vỏ lụa mua từ Ý có giá tới 27.000 euro (gần 650 triệu đồng tính theo tỉ giá hiện nay) thì hiện nay doanh nghiệp (DN) chế biến xuất khẩu hạt điều Việt chỉ phải bỏ ra 250 triệu đồng do sử dụng công nghệ trong nước. Chính vì vậy hầu hết DN chế biến hạt điều đều sử dụng máy móc trong nước sản xuất.

“Không chỉ tiết kiệm được hàng tỉ đồng chi phí đầu tư máy móc, thiết bị mà điều đáng nói là chất lượng, công nghệ máy móc Việt Nam còn hiệu quả, chính xác không thua kém hàng ngoại” - ông Nguyễn Xuân Khôi, Giám đốc Công ty Khuôn máy Việt, hội viên Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), tự tin nói.

Giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh

Ông Khôi cho biết thêm, ngành chế biến xuất khẩu hạt điều có chín công đoạn thì hiện nay tám công đoạn sử dụng máy móc, thiết bị trong nước.

Điều này hoàn toàn khác với cách đây 4-5 năm. Khi đó DN điều hầu như phải nhập khẩu 100% máy móc từ Trung Quốc, Ý, Ấn Độ. Có những loại máy nhập từ Ý giá hơn 1 tỉ đồng, sắm hết chín công đoạn, mỗi DN phải bỏ hàng chục tỉ, thậm chí hàng trăm tỉ đồng đối với những công ty quy mô lớn.

Để khắc phục tình trạng phải phụ thuộc máy móc ngoại, DN điều đã liên kết với các DN cơ khí trong nước nghiên cứu chế tạo thành công nhiều loại máy móc, thiết bị cho các công đoạn chế biến xuất khẩu hạt điều. Nếu so về giá thành, giá máy móc Việt Nam chỉ bằng 50%-80% giá máy móc nhập khẩu.

 Hạt điều Việt Nam trở thành "ông trùm" thế giới - 1
Công nghệ chế biến hạt điều Việt gây chú ý khách hàng nước ngoài. Ảnh: QUANG HUY

“Nhiều loại máy móc do DN Việt chế tạo có thể nói tốt không thua kém các nước trên thế giới, thậm chí có một số tính năng vượt trội hơn các máy móc hiện đại của Ý, Ấn Độ. Ví dụ như máy bóc vỏ lụa của nước ta tỉ lệ hạt tróc vỏ cao hơn, thổi sạch hơn máy nhập từ Ý. Máy cắt vỏ hạt điều trong nước độ bung nhân đạt tỉ lệ cao nhất 90%, 10% còn lại là do hạt điều bị dị dạng. Như vậy có thể nói đạt độ chính xác tới 100%” - ông Khôi khẳng định.

Không chỉ chủ động được công nghệ, tiết kiệm chi phí đầu tư máy móc, DN hạt điều còn giảm được chi phí nhân công. Theo ông Công, hầu như hiện nay các máy móc của công ty đều tự động hóa, độ chính xác cao nên sử dụng lao động rất ít. Nếu trước đây cần khoảng 100 lao động thì với máy móc trong nước sản xuất chỉ cần 20-30 lao động.

Điều này giúp giảm được nhiều chi phí, giảm được giá thành sản xuất, tăng sức cạnh tranh trên thị trường.

Xuất khẩu máy móc “made in VietNam”

Ông Lê Văn Đạt, Giám đốc Công ty Gia Lợi (Long An), nói hiện nay các DN ngành điều đang xuất khẩu ra nước ngoài cả những máy móc có độ chính xác cao như máy sấy, đo độ ẩm, dò kim loại, phân tách màu, phân tách cỡ hạt, khử trùng, đóng gói thành phẩm.

Đặc biệt, nhiều DN ngành điều còn chế tạo những máy móc chế biến ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao như hạt điều rang muối, điều chiên, điều snack… xuất khẩu. Chính điều này làm tăng giá trị của hạt điều Việt.

Ông Nguyễn Đức Thanh, Chủ tịch Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), cho biết hiện nay có khoảng 10 DN hội viên xuất khẩu được máy móc, thiết bị ngành điều ra nước ngoài. Chủ yếu xuất khẩu sang châu Phi.

Đáng chú ý, trước đây Việt Nam nhập khẩu máy móc từ Ấn Độ, một trong những nước có công nghệ chế biến điều tiên tiến nhưng giờ nước này lại đi mua máy móc của Việt Nam.

Uớc tính mỗi năm Việt Nam chế biến khoảng 1,3 triệu tấn hạt điều. Vinacas cho hay để phát triển công nghệ, tăng sức cạnh tranh, hiệp hội có Ban Khoa học công nghệ để liên kết với các DN ngành cơ khí, các viện, trường đại học nghiên cứu cải tiến máy móc, thiết bị, công nghệ trong chế biến hạt điều.

Mở đường cho "rác" công nghệ vào Việt Nam?

Thông tư 23/2015 của Bộ KH&CN vừa ban hành quy định cấm nhập máy cũ chỉ căn cứ vào độ tuổi dưới 10 năm là không hợp lý, thiếu cơ sở khoa học nên bị cộng đồng doanh nghiệp (DN) phản ứng dữ dội.

Đó là thông tin nổi cộm tại hội nghị tham vấn giữa DN với các cơ quan quản lý do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tổ chức ngày 27-11.

Ông Đỗ Phước Tống, Giám đốc Công ty Cơ khí Duy Khanh kiêm Phó Chủ tịch Hội Cơ khí TP.HCM, cho hay lâu nay công ty mua các máy cũ 10-15-20 năm của Đức, Nhật và Mỹ về dùng tốt. Mua máy mới của Đức, Nhật, Mỹ thì nhiều DN Việt không đủ tiền vì giá rất đắt.

“Do vậy, Nhà nước cấm nhập máy móc cũ trên 10 năm thì các DN Việt chỉ có nước mua máy mới của Trung Quốc hoặc máy cũ dưới 10 năm của Trung Quốc sản xuất. Tuy là máy mới nhưng máy móc do Trung Quốc sản xuất thường chỉ xài 2-3 năm là đã rệu rã rồi! Do đó, cấm nhập máy móc cũ những tưởng sẽ giúp ngăn chặn “rác” cũ công nghệ lỗi thời, hóa ra lại khiến DN phải nhập loại “rác” mới!” - ông Tống cảnh báo.

 Mở đường cho "rác" công nghệ vào Việt Nam? - 1
Ảnh : Nguồn Báo Công thương

Đồng quan điểm, ông Trương Quốc Tuấn, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Máy công cụ và thiết bị TAT, đưa ra những dẫn chứng cụ thể cho thấy 100% khách hàng mua máy của công ty ông đều phản ứng với Thông tư 23/2015 vì nếu áp dụng thì DN chỉ có nước… chết.

Ông Tuấn nhận xét thẳng thừng: “Thông tư này giúp một số DN kinh doanh máy móc, thiết bị của Trung Quốc vào Việt Nam dễ dàng hơn. Song các DN Việt lo ngay ngáy khi mua máy Trung Quốc vì các DN nước này bán máy xong lặn mất tăm. Đây là chuyện không mới trên thương trường”.

Đáp lại, bà Trần Tuyết Nhung, Vụ phó Vụ Đánh giá, Thẩm định và Giám sát công nghệ thuộc Bộ KH&CN, cho rằng trong năm qua có hơn 100 trường hợp máy cũ nhập về không sử dụng được.

“Một tỉnh bé như Đắk Nông thôi mà đã bị 4-5 cái máy cũ. Vay ngân hàng xong, mua máy mang về, ráp lại, máy không chạy được, tìm đối tác thì đã… chạy đâu mất tiêu. Tốn một đống tiền, Nhà nước lại tốn tiền lưu kho, lưu bãi chờ xử lý” - bà Nhung dẫn chứng.

Lập tức ông Đỗ Phước Tống phản biện: “Bộ KH&CN nên thống kê lại cho rõ các trường hợp đấy là DN tư mua hay mấy anh DN nhà nước mua về”.

Bổ sung cho thắc mắc của ông Tống, luật sư Vũ Xuân Hưng, Phó phòng Pháp chế VCCI, lưu ý khối DN tư nhân mua máy móc bằng tiền túi. Do vậy hơn ai hết, họ không dại gì nhập những máy cũ không hiệu quả. Nhà nước không cần lo thay cho họ, thay vào đó nên xem lại các quy định xem có hợp lý không và tại sao các DN cực lực phản đối quy định này.

Thép TQ "móc túi" người Việt chục ngàn tỉ

Người tiêu dùng Việt trở thành nạn nhân của hành vi sản xuất, kinh doanh tôn giả, nhiều khi họ bị “móc túi” mà không hề hay biết.

Những hệ lụy từ tình trạng tôn gian, thép giả Trung Quốc đã được nhiều doanh nghiệp và các bộ, ngành nêu ra tại hội thảo “Tình trạng tôn gian, tôn kém chất lượng nhập khẩu - Hậu quả và giải pháp” do Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) tổ chức ngày 27-11 ở Hà Nội.

Tôn thép Trung Quốc khuynh đảo thị trường

Theo ông Nguyễn Văn Sưa, Phó Chủ tịch VSA, trong số hàng nhập khẩu thì tôn mạ từ Trung Quốc có số lượng lớn, chất lượng kém và bán với giá rẻ, thậm chí bán dưới giá thành. Điều này làm tổn thất nghiêm trọng đối với các nhà sản xuất tôn mạ trong nước, làm mất uy tín của các doanh nghiệp chân chính.

Cùng bức xúc, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam, cho rằng đặc điểm của mặt hàng tôn mạ và tôn sơn phủ màu là khó xác định chất lượng nếu quan sát bằng mắt thường, trong khi đó hiểu biết của rất nhiều người dân về mặt hàng này còn hạn chế.

Đây chính là cơ hội cho những hành vi gian lận để trục lợi. Người tiêu dùng trở thành nạn nhân của hành vi sản xuất, kinh doanh tôn giả, nhiều khi họ bị “móc túi” mà không hề hay biết.

“Bằng thủ đoạn đôn dem, nghĩa là thực tế tấm tôn dày chỉ 0,28 mm nhưng kích thước in trên tôn là 0,35 mm. Mua theo giá tôn 0,28 mm, bán theo giá 0,35 mm, họ đã móc túi người tiêu dùng một khoản chênh lệch giá từ hành vi gian lận này” - ông Hùng chia sẻ.

Cũng theo ông Hùng, điều đáng lo ngại là chất lượng công trình được làm từ tôn, thép giả, kém chất lượng đồng nghĩa với quyền được an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng đang bị thách thức.

 Thép TQ "móc túi" người Việt chục ngàn tỉ - 1
Nhiều doanh nghiệp tôn, thép Việt đang điêu đứng vì thép Trung Quốc. Ảnh: TRÀ PHƯƠNG

Ăn gian chất lượng

Ông Vũ Văn Thanh, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Hoa Sen, cho biết gian lận về độ dày tấm tôn hay còn gọi là đôn dem để đánh lừa người tiêu dùng, kiếm lời bất chính là hành vi phổ biến.

“Chúng tôi đảm bảo rằng in độ dày 4 dem thì chắc chắn sẽ đủ 4 dem. Tuy nhiên, tôn gian, tôn Trung Quốc kém chất lượng thì có thể chỉ có 3 dem. Giá bán trung bình 1 mét tôn lạnh màu 74.000 đồng, còn giá bán tôn Trung Quốc kém chất lượng chỉ 70.000 đồng. Thoạt nghe người tiêu dùng sẽ dễ dàng bị đánh lừa bởi giá tôn Trung Quốc rẻ hơn. Tuy nhiên, nếu tính toán một cách khoa học, tuổi thọ của tôn giá rẻ chỉ 10 năm, còn tôn đúng chuẩn hơn 20 năm.

Nếu chia bình quân ra, dùng tôn gian người tiêu dùng sẽ phải chi khoảng 7.000 đồng/m/năm còn nếu dùng đúng chất lượng chỉ mất 3.700 đồng/m/năm. Từ đó, có thể thấy người tiêu dùng nếu mua tôn Trung Quốc sẽ đắt hơn 89%” - ông Thanh tính toán.

Ông Thanh nhìn nhận tình trạng hàng nhập khẩu giá rẻ gia tăng đột biến trong những năm gần đây, trong đó tôn nhập khẩu Trung Quốc đang chiếm tới 90% đã đe dọa nghiêm trọng nền sản xuất trong nước.

Còn theo thống kê của VSA, ước tính tổng sản lượng tiêu thụ nội địa năm 2015 gần 2,6 triệu tấn, với việc thị phần suy giảm 20%, các doanh nghiệp sản xuất trong nước sẽ bị tổn thất 9.300 tỉ đồng.

Thực trạng trên khiến doanh nghiệp tôn thép Việt phải đối mặt với những thách thức cả ở thị trường nội địa lẫn thị trường xuất khẩu. Khi bán ra nước ngoài thì vấp phải những hàng rào thương mại, hàng rào kỹ thuật vô cùng khắt khe ở các nước, ở “sân nhà” thì bị cạnh tranh khốc liệt bởi hàng nhập khẩu kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái tràn vào với số lượng lớn.

Thậm chí nhiều nguồn thép từ Trung Quốc đã mạo danh thép Việt xuất đi các nước khác. Điều đó có thể đẩy doanh nghiệp Việt vào tình thế tiến thoái lưỡng nan.

Từ thực tế này ông Sưa đề xuất hành vi giả nhãn hiệu, sản xuất, kinh doanh tôn kém chất lượng,… cần xử lý mạnh tay hơn, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì chuyển sang cơ quan điều tra xem xét. Đồng thời ban hành quy định cụ thể và chặt chẽ về vấn đề in thông tin sản phẩm trên bề mặt tôn.

Ông Sưa hy vọng: “Nếu quy định này được ban hành thì những cơ sở làm ăn gian dối sẽ khó lòng có thể lợi dụng những khe hở để trục lợi bất chính. Từ đó bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng và những nhà sản xuất chân chính”.

Đủ chiêu lách thuế

Bên cạnh câu chuyện tôn giả, vấn đề lợi dụng chính sách thuế để tuồn thép Trung Quốc vào Việt Nam cũng được đặt ra.

Ông Nguyễn Văn Sưa cho biết lượng phôi thép nhập khẩu từ Trung Quốc đội lốt thép hợp kim crom trong tháng 8 và 9-2015 đã làm cho Nhà nước thất thu trên 1,89 triệu USD.

“Việt Nam có quy định chung những loại thép chưa sản xuất được, trong đó có thép hợp kim, thép chất lượng cao dùng cho ngành cơ khí chế tạo được đánh thuế nhập bằng 0%. Với chiêu bài này, thép Trung Quốc nhập khẩu vào Việt Nam dưới danh nghĩa thép hợp kim được hưởng thuế ưu đãi 0%” - ông Sưa phân tích.

Thừa nhận thực tế này, ông Kiều Dương, đại diện Cục Quản lý thị trường thuộc Bộ Công Thương, thông tin gần đây có hiện tượng doanh nghiệp nhập khẩu phôi thép từ Trung Quốc sử dụng các chiêu để lách thuế. Với giá phôi thép bình quân hiện nay là 300 USD/tấn thì Nhà nước sẽ bị thất thoát khoảng 27 USD mỗi tấn phôi thép nhập khẩu từ Trung Quốc.

Phản đối Mỹ giám sát cá tra, ba sa của Việt Nam

Việt Nam lo ngại giám sát của Mỹ đối với các loài cá thuộc họ Siluriformes, trong đó có cá tra, basa sẽ trở thành một hàng rào thương mại phi thuế quan, tác động nghiêm trọng tới xuất khẩu.

Ngày 30-11, trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam liên quan đến việc Bộ Nông nghiệp Mỹ triển khai chương trình giám sát đối với các loài cá thuộc họ Siluriformes, trong đó có cá tra, basa của Việt Nam,Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình nêu rõ: “Chúng tôi rất thất vọng về việc Bộ Nông nghiệp Mỹ triển khai chương trình giám sát đối với các loài cá thuộc họ Siluriformes, trong đó có cá tra, basa của Việt Nam".

 Phản đối Mỹ giám sát cá tra, ba sa của Việt Nam - 1
Các công ty Việt Nam hoạt động theo cơ chế thị trường, luôn tuân thủ các quy định về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm khi xuất khẩu mặt hàng cá tra, basa vào thị trường Mỹ và đã được người tiêu dùng Mỹ chấp nhận rộng rãi - Ảnh: THỐT NỐT

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định sản phẩm cá tra, basa của Việt Nam là một trong những sản phẩm xuất khẩu chính của Việt Nam vào thị trường Mỹ. Các công ty Việt Nam hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường, luôn tuân thủ các quy định về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm khi xuất khẩu mặt hàng cá này vào thị trường Mỹ và đã được người tiêu dùng Mỹ chấp nhận rộng rãi. Do đó, việc lập cơ chế giám sát nêu trên là không cần thiết. Không chỉ Việt Nam mà nhiều cơ quan, tổ chức cũng như lãnh đạo Quốc hội Mỹ cũng đã lên tiếng phản đối chương trình này. Các nước ASEAN cũng lo ngại cơ chế này sẽ ảnh hưởng tới các mặt hàng xuất khẩu của họ.

"Chúng tôi lo ngại cơ chế này sẽ trở thành một hàng rào thương mại phi thuế quan, tác động nghiêm trọng tới xuất khẩu của Việt Nam và đời sống của nhiều người nông dân Việt Nam cũng như quyền lợi của người tiêu dùng Mỹ" - ông Lê Hải Bình nhấn mạnh.

Cũng theo ông Bình, phía Việt Nam sẽ tiếp tục làm việc với Bộ Nông nghiệp Mỹ về vấn đề này, theo dõi sát quá trình triển khai để bảo vệ quyền lợi chính đáng của hai nước.

Đến trái ớt, củ hành cũng phải nhập

Mặt hàng gia vị đang phải “nhường sân nhà” cho hàng ngoại nhập.

Trên thị trường TP.HCM xuất hiện ngày càng nhiều loại gia vị tươi nhập từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Trung Quốc, Thái Lan… Trong đó nhiều nhất và đa dạng về chủng loại nhất là gia vị Trung Quốc.

Gừng Indonesia, tỏi Trung Quốc

Chị Nguyễn Thị H., tiểu thương chợ Phạm Văn Hai, cho hay gia vị ngoại hiện nay có gừng, ớt, tỏi, hành tây, hành tím… Riêng các loại hành tây, hành tím, tỏi Trung Quốc có quanh năm. Sở dĩ gia vị Trung Quốc áp đảo thị trường do giá hấp dẫn.

Ví dụ gừng Việt Nam 30.000-35.000 đồng/kg, gừng Trung Quốc 15.000-20.000 đồng/kg; hành tím, tỏi Việt Nam 60.000-70.000 đồng/kg, Trung Quốc chỉ 20.000-30.000 đồng/kg.

“Bên cạnh đó, nguồn cung trong nước không ổn định, lúc có lúc không nên người bán không thích lấy hàng” - chị H. lý giải vì sao bán nhiều gia vị ngoại.

Trên thị trường cũng bán nhiều gừng, hành Indonesia. Tuy nhiên, theo tiểu thương, mẫu mã và chất lượng gừng Indonesia thua xa hàng Việt khi màu sắc nhạt, độ cay nồng không bằng.

“Tuy vậy, chỉ có người bán mới biết xuất xứ sản phẩm ở đâu chứ người mua khó phân biệt được. Bởi gừng Indonesia trông giống y chang gừng Việt Nam, giá cũng ngang nhau”, anh Tiến, tiểu thương chợ Phạm Văn Hai nói.

Đại diện siêu thị Lotte Mart nói phải nhập gia vị như hành tây nhằm đa dạng hóa sản phẩm cũng như bù đắp khi sản phẩm trong nước không đủ hàng. Có thời điểm Lotte Mart nhập hành tây Hàn Quốc với giá bình quân 15.000 đồng/kg, nếu so với hành tây Đà Lạt cao hơn chỉ vài ngàn đồng mỗi kg.

 Đến trái ớt, củ hành cũng phải nhập - 1
Hành tây Trung Quốc, gừng Indonesia xuất hiện ngày càng nhiều tại chợ. Ảnh: TÚ UYÊN

Gia vị Việt khó cạnh tranh

Theo chợ đầu mối Bình Điền, lượng gia vị về chợ khoảng 835 tấn mỗi đêm gồm nhiều mặt hàng như hành trắng, hành tím, tỏi, ớt, gừng, trái tắc, chanh... Trong đó hàng của Trung Quốc chiếm đến hơn 20%.

Ông Sơn Minh Thành, Chủ nhiệm Hợp tác xã Hành tím Vĩnh Châu (Sóc Trăng), nhìn nhận hành tím địa phương phải cạnh tranh gay gắt với hành ngoại nhập, nhất là Trung Quốc. Vào chính vụ, giá hành tím Sóc Trăng khoảng 8.000-10.000 đồng/kg, tương đương hoặc có khi cao hơn một chút so với hành Trung Quốc. Còn thời điểm này giá hành tím Sóc Trăng tăng cao, khoảng 35.000 đồng/kg.

Theo ông Thành, cái khó của nông dân là không có đầu ra ổn định. Họ chủ yếu phụ thuộc vào thương lái, không biết kết nối với các hệ thống phân phối để đưa hàng ra thị trường.

Lý giải nguyên nhân nông sản Việt, thậm chí đến cả mặt hàng gia vị cũng khó cạnh tranh với hàng ngoại nhập, một số đơn vị kinh doanh rau củ sạch Đà Lạt nhìn nhận do nông dân Việt sản xuất nhỏ lẻ, chi phí cao.

Còn ông Trần Hữu Hiệp, Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, phân tích hàng nông sản ngoại và Trung Quốc nói chung, gia vị nói riêng vào thị trường nội có ưu thế đa dạng chủng loại, mẫu mã, hình thức hấp dẫn hơn; có khả năng cung lượng hàng lớn và ổn định nhất là đối với khách hàng là các nhà hàng, quán ăn, bếp ăn công nghiệp cần số lượng lớn.

Trong khi nhiều mặt hàng nội cùng loại không ổn định về nguồn cung, phụ thuộc nhiều vào mùa vụ, giá thành lại cao hơn. Khâu quản lý thị trường, kiểm tra, kiểm soát chất lượng hàng hóa nhiều lúc chưa thật đảm bảo yêu cầu. Điều này dễ dẫn đến tình trạng “hàng China” đội lốt hàng chất lượng cùng loại, hoặc bằng mọi cách lách các loại thuế, phí nên chiếm ưu thế hơn về giá bán so với hàng Việt.

Để có thể cạnh tranh hàng ngoại, theo ông Hiệp, nông sản nội cần phải cải tiến từ khâu giống, quản lý nghiêm ngặt quy trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhằm đảm bảo chất lượng, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Đồng thời xây dựng các chuỗi giá trị hàng nông sản được đảm bảo bằng kênh phân phối chính thức, vận hành hiệu quả.

Gia vị khô cũng nhập đầy

Khảo sát tại một số siêu thị cho thấy không chỉ gia vị tươi mà các loại gia vị khô, xốt gia vị nhập ngoại cũng khá nhiều. Đa dạng nhất là các loại tương ớt, tương cà, xốt thịt nướng, các loại muối ớt chanh, muối ớt xanh, xốt lẩu. Chẳng hạn tại Lotte Mart có nhiều mặt hàng gia vị như nước tương, tương ớt, hạt nêm, muối, bột chiên…

Gần đây các nhà phân phối, cơ quan xúc tiến thương mại các nước tăng cường quảng bá gia vị thông qua nhiều hình thức như khuyến mãi, cho dùng thử, giảm giá bán… để tiếp cận người Việt.
 
Blogger Templates